Mỗi độ xuân về, khi đất trời chuyển mình trong sắc biếc của lúa non và hương thơm ngai ngái của đất phù sa, những lễ hội làng lại rộn ràng khắp các miền quê Việt Nam. Trong không gian ấy, bóng dáng của người thi sĩ dường như trở nên gần gũi hơn bao giờ hết, lặng lẽ quan sát, lắng nghe và chắt chiu từng khoảnh khắc để gửi vào câu chữ, làm sống dậy một hồn quê dung dị mà sâu lắng.
Từ xa xưa, làng Đan Thầm được gọi là Kẻ Nai. Thời Nhà Lý, làng có tên là Đan Nê, sau đổi tên là Đan Thầm. Thủa đó, dân cư tập trung sinh sống tại khu vực cánh đồng Vạt hiện nay. Sau một thời gian, dân làng chuyển về xây dựng nhà ở dọc theo bờ hữu sông Nhuệ với địa thế voi nằm. Khu vực đầu làng được coi là đầu voi.
Lễ hội làng Đan Thầm
Tương truyền, xa xưa, ông bà Triệu Quang và Nguyễn Thị Huy khi đi lễ chùa đã gặp hai con rắn bị đàn rết cắn chết đã thuê người đem đi chôn cất cẩn thận, thời gian sau sinh hạ hai con gái. Càng lớn hai cô dung mạo càng sinh đẹp, tài đức vẹn toàn. Đượ̣c vua Lý Thái Tổ thương yêu. Người chị được phong làm tả hoàng hậu Quế nương, người em được phong làm hữu quý phi Hoa nương.
Một lần Vua cùng hai bà đi du ngoạn theo dòng Tô Lịch đến đầu làng Đan Nê thấy cảnh sông nước hữu tình, mạch nguồn trong sạch, dòng chảy vòng quanh uốn lượn như rồng cuộn hổ ngồi Nhà vua truyền dựng hành cung ở khu đất đầu voi. Thấy ngôi chùa tên Hưng long tự ở cuối làng bị dột nát, hai bà đóng góp tiền để nhân dân trong làng tu bổ. Thấy dân đói khổ, phong tục không thuần, hai bà xin Nhà vua được ở lại dạy dân cách trồng dâu nuôi tằm và làm nông...Từ đó, đời sống nhân dân dần no đủ, phong tục thuần phác. Hai bà được vua ban Đan Nê cho hai bà làm thang ấp để sau này hương khói phụng thờ hai bà.
Ngày 7/12, hai bà cùng mất. Từ hành cung, linh hồn hai bà biến thành hai dải lụa điều theo gió bay về trời. Vua Lý Thái Tổ vô cùng thương xót cho tổ chức tang lễ chu đáo, lập đình thờ. Ngôi đình thờ hai bà được đặt bên cạnh Hưng Long Tự. Năm 1999, cụm di tích đình chùa Đan Thầm được Bộ Văn hóa quyết định công nhận là cụm Di tích lịch văn hóa cấp Quốc gia.
Làng Đan Thầm (nay thuộc xã Tam Hưng, thành phố Hà Nội)
Do ngại phạm húy nên trong làng mọi người không đặt tên trùng tên cha, mẹ của hai bà cũng như tên của hai bà. Khi nói các từ Quang, Huy, Quế, Hoa mà gọi lái đi như: Quang thì gọi là quông; hoa thì gọi là huê, quế thì gọi là quý...
Hiện nay, làng Đan Thầm có trên 130 hộ và gần 600 nhân khẩu. Trong thôn có nhiều dòng họ như: Lê, Lý, Nguyễn, Vũ, Phạm, Tân, Trịnh, Trần, Đoàn...trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, các dòng họ trong làng luôn giúp nhau trong cuộc sống.
Lễ hội làng Đan Thầm (nay thuộc xã Tam Hưng, thành phố Hà Nội) không chỉ là dịp để tưởng nhớ tổ tiên, các bậc tiền nhân có công với quê hương, mà còn là nơi kết tinh những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời. Tiếng trống hội vang lên rộn rã, từng đoàn người trong trang phục truyền thống nối nhau về đình làng, nơi linh thiêng lưu giữ ký ức cộng đồng. Những trò chơi dân gian mang lại tiếng cười giòn giã, gợi nhớ một thời tuổi thơ mộc mạc. Chính trong khung cảnh ấy, nhà thơ Trần Hữu Đạt đã tìm thấy chất liệu quý giá cho sáng tác một vẻ đẹp không phô trương mà thấm đẫm tình người.
Nhà thơ Trần Hữu Đạt
CHÍNH HỘI LÀNG ĐAN THẦM
Xuân Bính Ngọ men theo nếp cổ.
Theo lệ làng lại mở cửa đình.
Tưng bừng rước thánh anh linh.
Cầu cho con cháu thông minh giỏi tài.
Cả tháng một tháng hai náo nức.
Khắp xóm làng rạo rực mong chờ
Trong đình các cụ bình thơ.
Nam thanh nữ tú tập hò hát ca.
Khắp ngõ xóm cờ hoa phơi phới.
Những cây bông vẫy gọi mời chào.
Ướp làng hương bưởi lao xao
Sân đình hoa muỗm ngọt ngào sớm mai
Đúng ngày rằm tháng 2 khai hội
Bao trò chơi, hồ hởi hân hoan.
Lội ao bắt vịt...dân gian.
Pháo hoa, hát múa ngút ngàn đêm vui.
Sáng 16 từng hồi trống giục
Rước Thánh Bà theo dọc Nhuệ Giang.
Qua bến giữa hướng đầu làng.
Tới khu Văn Chỉ lộc vàng Thánh ban.
Quanh kiệu thánh sáo đàn mở lối.
Phụ nữ làng phơi phới xinh tươi.
Nam thanh lão ấu rạng ngời.
Theo lời Thánh dặn, triệu hồi về cung.
Đan Thầm hỡi tưng bừng lễ hội
Đan Thầm ơi phơi phới ngàn năm
Đan Thầm đẹp tựa trăng rằm
Đan Thầm lộc phúc, đức tâm mãi đầy
TRẦN HỮU ĐẠT (Đan Thầm ngày 16/2 âm lịch năm Bính Ngọ)
Chỉ vài câu thơ ngắn ngủi, nhưng đủ để vẽ nên một bức tranh sống động về lễ hội làng Đan Thầm nơi quá khứ và hiện tại giao thoa, nơi con người tìm về cội nguồn. Đó cũng là cách mà thi ca lưu giữ những giá trị tưởng chừng mong manh nhưng lại bền bỉ theo thời gian.
Lễ hội làng Đan Thầm
Bà Phạm thuý Hằng (bên phải) trưởng thôn Đan Thầm
Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, nhiều lễ hội làng đã có những thay đổi để phù hợp với đời sống mới. Song, chính nhà thơ Trần Hữu Đạt, bằng tình yêu và sự nhạy cảm của mình đã góp phần giữ gìn “phần hồn” của lễ hội. Thơ ông nhắc nhở chúng ta rằng, giữa những bộn bề hiện đại, vẫn cần lắm những phút giây lắng lại để nghe tiếng trống hội, để nhớ về mái đình, cây đa, giếng nước, những biểu tượng của quê hương.
Lễ hội làng Đan Thầm, qua lăng kính của nhà thơ Trần Hữu Đạt, không chỉ là một sự kiện văn hóa, mà còn là nguồn cảm hứng bất tận, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và gìn giữ bản sắc dân tộc. Có lẽ, chừng nào còn những câu thơ viết về lễ hội, chừng đó hồn quê vẫn còn hiện hữu, âm thầm mà bền bỉ trong trái tim mỗi người Việt Nam chúng ta.
Tấn Phát